Thói quen xấu

Phần lớn các thói quen đều có khả năng tốt lúc ban đầu. Nghĩa là nhiều thói quen mà bạn không cố tình tạo ra, chắc hẳn phải có giá trị nào đó để thực hiện hành vi đó. Giá trị đó khiến bạn lặp lại hành vi đủ thường xuyên để tạo thành thói quen.

Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường cắn móng tay. Rốt cuộc nó trở thành thói quen rất khó bỏ. Tuy nhiên, khi bắt đầu thực hiện hành động đó, tôi cảm thấy thoải mái, giải toả được áp lực hay ít nhất khiến móng tay của tôi ngắn hơn. Tôi làm điều đó thường xuyên đến mức khó có thể ý thức được mình đang làm nó. Cuối cùng, xuất hiện một điểm xấu trong tật cắn móng tay của tôi. Móng tay của tôi trông rất xấu nên tôi phải bỏ thói quen này.

>>> Xem thêm: hãy ngủ ngon

Vài thói quen trở nên xấu vì yếu tố tưởng thưởng vào một thời điểm cũng gây ra những hậu quả tiêu cực mà chúng ta không dễ dàng nhận ra khi thói quen bắt đầu. Ăn nhiều là một thói quen như thế. Bạn có thể biết một cách chung chung rằng ăn quá nhiều là một vấn đề. Nhưng khi bạn ăn nhiều, có rất ít hậu quả tiêu cực ngay lúc đó. Tôi nghĩ rằng nếu ăn quá nhiều, bạn có thể có cảm giác buồn nôn nhưng chưa phải là tận thế. Bạn không bị bệnh nặng. Hầu hết thời gian, bạn chỉ tận hưởng bữa ăn và cảm thấy hơi no một chút. Và do đó bạn làm lại… và làm lại… và làm lại. Nếu bạn bắt đầu làm việc này khi còn trẻ, những hậu quả tiêu cực đã không nhiều đến thế. Tuy vậy, nếu cứ thu nhiều calo hơn mức bạn đốt đi, bạn sẽ bắt đầu tăng cân. Nhưng đến lúc thực sự nhận ra mình đã tăng cân, thói quen ăn nhiều đã ăn sâu vào bạn.

Thay đổi thói quen

Không phải mọi sự thay đổi thói quen đều bị thúc đẩy bởi hậu quả một hành vi. Đôi khi, môi trường thay đổi theo cách nào đó và một hành vi phát huy tác dụng trong quá khứ không còn hiệu quả nữa.

Vài năm trước, tôi mua một chiếc xe có chìa khoá thông minh. Với chiếc xe này, thay vì leo lên xe cắm chìa khoá vào và vặn chìa khoá, tôi phải cắm chìa khoá vào một rãnh trên bảng điều khiển và nhấn một cái nút. Thói quen đã duy trì trong hơn 20 năm đó bất ngờ không còn phát huy tác dụng. Tôi ngồi trong xe, với chìa khoá trong tay và cắm chìa khoá vào ổ. Lúc đó, tôi phải suy nghĩ mình cần làm gì tiếp theo. Không phải thói quen tôi đã phát triển là xấu, chỉ là chúng không còn phù hợp trong môi trường mới nữa. Không may thay, việc ngồi trong xe và muốn nổ máy xe là đủ để gọi lên hành vi mang tính thói quen cũ trong đầu.

>>> Xem thêm: Cam kết

Có hai thành phần quan trọng để thay đổi thói quen. Đầu tiên, sự hiện diện của thói quen cũ thúc đẩy bạn thực hiện một hành động. Bằng mọi cách, bạn phải ngăn cản hành vi cũ xảy ra. Thứ hai, bạn phải thay thói quen cũ bằng một thói quen mới đòi hỏi lưu giữ những ký ức mới liên kết môi trường với những hành động mới.

Thói quen được thúc đẩy bởi môi trường vật chất và tâm trí của bạn. Mỗi khi ở trong môi trường mà bạn thường thực hiện một hành vi mang tính thói quen, bạn sẽ rơi vào trạng thái tâm trí để thực hiện hành vi đó một lần nữa. Trạng thái tâm trí đó bao gồm cả sự kích hoạt mục tiêu thực hiện hành vi và sự chuẩn bị để thực hiện hành vi kia. Khi bạn có mục tiêu làm gì đó và mục tiêu này đang cố gắng ảnh hưởng đến hành vi của bạn thì những nhà tâm lý học gọi mục tiêu đó là có hiệu lực. Độ mạnh mà mục tiêu đó đang cố ảnh hưởng đến hành vi của bạn là mức độ kích hoạt.

>>> Xem thêm; Chi phí quảng cáo trên Facebook tốn bao nhiêu?

Trong hầu hết các tình huống, bạn không nhận ra sự kích hoạt mục tiêu để thực hiện hành động hay sự chuẩn bị các hành động cần thiết để đạt được mục tiêu. Nếu bạn đang lái xe về nhà từ chỗ làm trên tuyến đường quen thuộc và bạn đến một ngã tư quan trọng nơi bạn phải rẽ trái, mục tiêu rẽ trái được kích hoạt. Bạn chuẩn bị và thực hiện những thao tác bật đèn báo hiệu và thực hiện việc rẽ trái. Bạn có thể làm tất cả những điều này mà không cần chủ tâm suy nghĩ.

Dù vậy, giả sử bạn cần dừng lại mua sữa trên đường về nhà. Để đến một cửa hàng tạp hoá, bạn phải tiếp tục đi thẳng ở ngã tư đó và đi qua thêm vài dãy nhà nữa. Khi bạn đến ngã tư, thói quen sẽ kích hoạt mục tiêu rẽ trái. Để ngăn bản thân khỏi hành động rẽ đó, bạn phải sử dụng những nỗ lực cố tâm để ngăn bản thân mình khỏi thực hiện hành động mang tính thói quen kia.

Nỗ lực mang tính ý thức đó có sự tham gia của thùy trước não, với chức năng chính để ngăn cản hay kìm hãm các hành động.

Trong trường hợp lái xe về nhà từ chỗ làm, bạn sẽ mua sữa thành công nếu bạn kìm hãm hành động rẽ trái và thay thế nó bằng hành động lái xe đến cửa hàng. Thật không may là việc kìm hãm những hành động mang tính thói quen rất tốn sức. Vì sẽ tốn sức để dừng một hành động, bạn sẽ tiếp tục với hành động mang tính thói quen của mình nếu bị xao lãng. Nếu radio phát một câu chuyện rất thú vị, bạn có thể trở nên quá say mê lắng nghe câu chuyện. Khi đến ngã tư nơi phải đi thẳng, bạn sẽ không sử dụng những hệ thống kìm hãm thói quen của mình vì bạn đang dồn hết tâm trí vào câu chuyện trên đài. Sau đó, khi về tới nhà, bạn sẽ nhận ra rằng mình đã quên mua sữa.

Khả năng kìm hãm những thói quen cũng bị đứt đoạn bởi áp lực, bởi các khoảng thời gian dài tự kiểm soát và bởi sự ảnh hưởng liên tục của môi trường lên hành vi của bạn. Thông thường chúng ta thấy những người đang ăn kiêng hay gặp khó khăn trong việc thực hiện chế độ ăn nếu họ trải qua một ngày tồi tệ. Trong bộ phim Máy bay có một đoạn hài hước, một trò lừa phỉnh kinh điển của thể loại phim thảm hoạ, khi các phi công trên máy bay bị bệnh và viên điều khiển dưới mặt đất phải tìm ra cách giúp những hành khách hạ cánh an toàn. Trong suốt bộ phim, viên điều khiển tội nghiệp đã phá vỡ chế độ ăn kiêng của mình, bắt đầu hút thuốc lại và cuối cùng tái nghiện thói quen ngửi keo. Với bất kỳ ai, nhân vật trong phim hay con người trong đời thực, áp lực làm cho hoạt động của thuỳ não trước suy yếu và khiến việc dừng những hành động mang tính thói quen trở nên khó khăn.

Trong những tình huống khác, bạn có thể phải dùng hết khả năng để kiểm soát một hành vi mang tính thói quen nếu bạn bị tổn phí trí lực và/ hay thể lực của mình để ngăn bản thân không hành động xấu. Cuối cùng, bạn hình thành khả năng tiếp tục điều chỉnh bản thân mình theo cái mà, Roy Baumeister, nhà tâm lý học, tác giả của cuốn Sức mạnh ý chí: Sự tái khám phá sức mạnh vĩ đại nhất của con người, và những cộng tác viên nghiên cứu của ông nhắc đến như sự cạn kiệt tiềm thức.

Ví dụ, hãy xem trường hợp vị giám đốc đang cố bỏ thuốc. Sau vài tuần bỏ thuốc thành công, ông trải qua một ngày đầy bực tức vì sự cẩu thả của một nhân viên trong công việc. Dù rằng cả ngày phải đụng mặt với anh ta nhưng vị giám đốc tránh công khai khiển trách. Vào cuối ngày, vị giám đốc này thấy mình như bị kéo vào một cửa hàng tiện dụng địa phương để mua một gói thuốc vì ông không đủ khả năng để chống lại ước muốn được hút thuốc hôm đó nữa.

Về bản chất, cách tệ hại nhất để cố gắng dừng một thói quen là thông qua cái chúng ta gọi là sức mạnh ý chí. Đôi lúc bạn có thể ngăn bản thân mình khỏi một thói quen xấu nhưng sức mạnh ý chí không thể là cách duy nhất giúp bạn từ bỏ một thói quen.

Cuối cùng, môi trường gọi lên hành vi mang tính thói quen có thể kích hoạt mục tiêu liên kết đến hành động đó. Kết quả là, thậm chí nếu bạn thành công khi kìm hãm hành động, mục tiêu sẽ vẫn sẵn sàng ảnh hưởng đến hành vi của bạn. Nếu bạn đang cố giảm cân, bạn có thể cố gắng ăn ít hơn. Bạn có thói quen ăn một bát khoai tây rán vào buổi chiều. Khi chiều đến, khung thời gian và những hành động quen thuộc vào buổi chiều sẽ kích hoạt mục tiêu ăn khoai tây rán trong bạn. Dù bạn có thể ngăn bản thân không ăn khoai tây trong một dịp nào đó thì mục tiêu ăn vặt đó vẫn có hiệu lực. Lúc đó, bạn có thể bắt đầu cảm thấy thèm thuồng muốn ăn. Thèm muốn xảy ra khi bạn có một mục tiêu hiệu lực đã bị kìm hãm. Thèm muốn là cách tâm trí nhắc bạn nhớ rằng có thứ gì đó bạn chưa làm.

Để ngừng một thói quen cũ thì bạn không chỉ phải ngăn không thực hiện một hành vi mang tính thói quen mà còn phải giải quyết mục tiêu bị kích hoạt bởi tình huống.

Phương Trinh

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.

kem duong da tot nhat cho mọi người phù hợp với mọi loại da và dịch vụ quay phim cướidịch vụ sáng tạo nội dung toàn quốc